Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Quy định về xóa án tích

Theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), việc xóa án tích của bạn sẽ được thực hiện theo các quy định về xóa án tích của bộ luật này bởi có lợi hơn cho người bị kết án so với Bộ luật hình sự năm 1985 (thời điểm bạn phạm tội và bị xét xử).
Điều 64 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các trường hợp đương nhiên được xóa án tích:
1. Người được miễn hình phạt.
2. Người bị kết án không phải về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc về tội phạm chống phá hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:
a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;
c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến 15 năm;
d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm.
Khoản 1 Điều 67 quy định thời hạn để xóa án tích căn cứ hình phạt chính đã tuyên. Khoản 3 điều này quy định việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.
Như vậy, ngoài việc chấp hành hình phạt chính, người bị kết án còn phải chủ động tự giác chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung và các quyết định khác trong bản án. Đây vừa là nghĩa vụ nhưng đồng thời cũng là quyền lợi bởi nếu họ không chấp hành thì sẽ không được xem xét để xóa án tích bất luận vì lý do gì.
Để việc xóa án tích được áp dụng thống nhất, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999. Theo hướng dẫn tại điểm b mục 11 của Nghị quyết này thì thời hạn để xoá án tích được căn cứ hình phạt chính đã tuyên, mà không căn cứ hình phạt bổ sung. Thời hạn đó bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, chứ không phải bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.
Ví dụ: Một người bị phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản, phải bồi thường cho người bị hại 5 triệu đồng, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trong trường hợp này theo quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999, họ đương nhiên được xoá án tích, nếu hết thời hạn 3 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù 2 năm, bồi thường xong 5 triệu đồng cho người bị hại, đã nộp đủ 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành hành bản án, người đó không phạm tội mới.
Thời hạn 3 năm được tính từ ngày chấp hành xong tất cả các quyết định của bản án (bao gồm: hình phạt 2 năm tù, bồi thường cho người bị hại 5 triệu đồng, nộp đủ 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm) chứ không phải kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính là 2 năm tù.
Như vậy, với quy định vừa viện dẫn thì thời hạn xóa án tích của bạn là 3 năm kể từ khi bạn chấp hành xong hình phạt tù giam và tiền án phí hình sự cũng như các quyết định khác của bản án nếu có.

Quy định về xóa án tích

Theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), việc xóa án tích của bạn sẽ được thực hiện theo các quy định về xóa án tích của bộ luật này bởi có lợi hơn cho người bị kết án so với Bộ luật hình sự năm 1985 (thời điểm bạn phạm tội và bị xét xử).
Điều 64 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các trường hợp đương nhiên được xóa án tích:
1. Người được miễn hình phạt.
2. Người bị kết án không phải về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc về tội phạm chống phá hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:
a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;
c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến 15 năm;
d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm.
Khoản 1 Điều 67 quy định thời hạn để xóa án tích căn cứ hình phạt chính đã tuyên. Khoản 3 điều này quy định việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.
Như vậy, ngoài việc chấp hành hình phạt chính, người bị kết án còn phải chủ động tự giác chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung và các quyết định khác trong bản án. Đây vừa là nghĩa vụ nhưng đồng thời cũng là quyền lợi bởi nếu họ không chấp hành thì sẽ không được xem xét để xóa án tích bất luận vì lý do gì.
Để việc xóa án tích được áp dụng thống nhất, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999. Theo hướng dẫn tại điểm b mục 11 của Nghị quyết này thì thời hạn để xoá án tích được căn cứ hình phạt chính đã tuyên, mà không căn cứ hình phạt bổ sung. Thời hạn đó bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, chứ không phải bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.
Ví dụ: Một người bị phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản, phải bồi thường cho người bị hại 5 triệu đồng, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trong trường hợp này theo quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999, họ đương nhiên được xoá án tích, nếu hết thời hạn 3 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù 2 năm, bồi thường xong 5 triệu đồng cho người bị hại, đã nộp đủ 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành hành bản án, người đó không phạm tội mới.
Thời hạn 3 năm được tính từ ngày chấp hành xong tất cả các quyết định của bản án (bao gồm: hình phạt 2 năm tù, bồi thường cho người bị hại 5 triệu đồng, nộp đủ 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm) chứ không phải kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính là 2 năm tù.
Như vậy, với quy định vừa viện dẫn thì thời hạn xóa án tích của bạn là 3 năm kể từ khi bạn chấp hành xong hình phạt tù giam và tiền án phí hình sự cũng như các quyết định khác của bản án nếu có.

Vứt xe chở ma túy sau khi tông bị thương 2 cảnh sát

Theo đại tá Hồ Xuân Hòa (Trưởng công an thành phố Vinh), đêm 28/2, nhận tin có nhóm người đang vận chuyển ma túy đi hai taxi từ huyện Thanh Chương về thành phố Vinh, Ban chuyên án cho một tổ công tác bám theo, tổ khác đón lõng tại cầu Bến Thủy 2.
Tổ công tác sau đó phát hiện tới đường tránh thành phố Vinh, địa phận huyện Hưng Nguyên, người trong taxi đã chuyển sang một chiếc xế hộp màu đen đợi sẵn. Chiếc xe này sau đó chạy theo đường tránh Vinh tới cầu Bến Thủy 2 hướng ra tỉnh Hà Tĩnh.
Tại cầu Bến Thủy 2, bị cảnh sát yêu cầu dừng lại, tài xế không chấp hành, tông gãy chân và xương sườn của thượng tá Mai Chiến Thắng (Phó trưởng công an thành phố Vinh), làm gẫy tay và chân của anh Thái Bá Dũng (Đội phó đội hình sự).
Trưa 2/3, một trong những người ngồi trong xe là Phan Công Cường (32 tuổi) bị bắt. Cường khai sau khi lao xe vào cảnh sát đã chạy vòng trở lại đường tránh Vinh, địa bàn huyện Hưng Nguyên, vứt 2 bánh heroin ở vệ đường, rồi bỏ xe ở đó.
Khám nhà Cường, cảnh sát thu thêm 4 bánh heroin. Mở rộng điều tra, tối 2/3 cảnh sát bắt thêm 3 người liên quan, đang tiếp tục truy tìm kẻ cầm lái.

Vứt xe chở ma túy sau khi tông bị thương 2 cảnh sát

Theo đại tá Hồ Xuân Hòa (Trưởng công an thành phố Vinh), đêm 28/2, nhận tin có nhóm người đang vận chuyển ma túy đi hai taxi từ huyện Thanh Chương về thành phố Vinh, Ban chuyên án cho một tổ công tác bám theo, tổ khác đón lõng tại cầu Bến Thủy 2.
Tổ công tác sau đó phát hiện tới đường tránh thành phố Vinh, địa phận huyện Hưng Nguyên, người trong taxi đã chuyển sang một chiếc xế hộp màu đen đợi sẵn. Chiếc xe này sau đó chạy theo đường tránh Vinh tới cầu Bến Thủy 2 hướng ra tỉnh Hà Tĩnh.
Tại cầu Bến Thủy 2, bị cảnh sát yêu cầu dừng lại, tài xế không chấp hành, tông gãy chân và xương sườn của thượng tá Mai Chiến Thắng (Phó trưởng công an thành phố Vinh), làm gẫy tay và chân của anh Thái Bá Dũng (Đội phó đội hình sự).
Trưa 2/3, một trong những người ngồi trong xe là Phan Công Cường (32 tuổi) bị bắt. Cường khai sau khi lao xe vào cảnh sát đã chạy vòng trở lại đường tránh Vinh, địa bàn huyện Hưng Nguyên, vứt 2 bánh heroin ở vệ đường, rồi bỏ xe ở đó.
Khám nhà Cường, cảnh sát thu thêm 4 bánh heroin. Mở rộng điều tra, tối 2/3 cảnh sát bắt thêm 3 người liên quan, đang tiếp tục truy tìm kẻ cầm lái.

Giả nhân viên viễn thông lừa khách hàng trúng thưởng

Hôm nay, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm công nghệ cao Hà Nội cho biết vừatriệt phá nhóm tự xưng là nhân viên tập đoàn viễn thông lớn lừa trúng thưởng để chiếm đoạt tiền khách hàng.
tang-9598-1393840588.jpg
Nhóm lừa đảo, trộm thẻ thanh toán điện thoại bằng chiêu trúng thưởng bị di lý về Hà Nội ngày 28/2. Ảnh: Việt Dũng.
Theo điều tra, Trương Văn Chỉ (23 tuổi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) giả là nhân viên viễn thông gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đình Phúc (Hà Tĩnh) thông báo nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập tập đoàn, trong chương trình khuyến mãi cho thương binh số điện thoại của ông Phúc may mắn được trúng thưởng 137 triệu đồng (bao gồm 100 triệu và 37 triệu đồng trả bằng một chiếc xe máy).
Chỉ đề nghị ông Phúc cung cấp thông tin cá nhân để làm hồ sơ lĩnh thưởng và nộp 600.000 đồng qua thẻ cào để lấy mã số nhận thưởng. Tưởng thật, ông Phúc làm theo và Chỉ dặn: “Sẽ có người của Sở giao thông gọi điện hướng dẫn làm thủ tục đăng ký xe máy”.
tang-vat-1-5793-1393840588.jpg
Tang vật vụ án. Ảnh: Việt Dũng.
Sau đó đồng bọn của Chỉ là Trần Xuân Hùng (20 tuổi) gọi cho ông Phúc tự xưng là người của Sở Giao thông yêu cầu nộp 3,6 triệu đồng thẻ cào điện thoại để đăng ký giấy tờ cho xe máy trúng thưởng. Ông Phúc mua thẻ và chuyển cho Hùng.
Hùng thông báo sẽ có người của công an kinh tế và Chi cục thuế gọi đến để thu tiền thuế của giải thưởng. Sau đó, Nguyễn Tuấn Anh (23 tuổ) tiếp tục giả là người của hai cơ quan này gọi cho nạn nhân đề nghị nộp 6,3 triệu đồng...
Theo nhà chức trách, toàn bộ giá trị thẻ cào 10,5 triệu đồng, chúng bán lại cho Nguyễn Thị Xuân với giá bằng 70%. Tuy nhiên, Xuân chỉ trả 5,7 triệu đồng, do có một số mã không sử dụng được.
Hiện, Chỉ, Hùng, Tuấn Anh và Xuân bị tạm giữ về tội Sử dụng mạng Internet để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Giả nhân viên viễn thông lừa khách hàng trúng thưởng

Hôm nay, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm công nghệ cao Hà Nội cho biết vừatriệt phá nhóm tự xưng là nhân viên tập đoàn viễn thông lớn lừa trúng thưởng để chiếm đoạt tiền khách hàng.
tang-9598-1393840588.jpg
Nhóm lừa đảo, trộm thẻ thanh toán điện thoại bằng chiêu trúng thưởng bị di lý về Hà Nội ngày 28/2. Ảnh: Việt Dũng.
Theo điều tra, Trương Văn Chỉ (23 tuổi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) giả là nhân viên viễn thông gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đình Phúc (Hà Tĩnh) thông báo nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập tập đoàn, trong chương trình khuyến mãi cho thương binh số điện thoại của ông Phúc may mắn được trúng thưởng 137 triệu đồng (bao gồm 100 triệu và 37 triệu đồng trả bằng một chiếc xe máy).
Chỉ đề nghị ông Phúc cung cấp thông tin cá nhân để làm hồ sơ lĩnh thưởng và nộp 600.000 đồng qua thẻ cào để lấy mã số nhận thưởng. Tưởng thật, ông Phúc làm theo và Chỉ dặn: “Sẽ có người của Sở giao thông gọi điện hướng dẫn làm thủ tục đăng ký xe máy”.
tang-vat-1-5793-1393840588.jpg
Tang vật vụ án. Ảnh: Việt Dũng.
Sau đó đồng bọn của Chỉ là Trần Xuân Hùng (20 tuổi) gọi cho ông Phúc tự xưng là người của Sở Giao thông yêu cầu nộp 3,6 triệu đồng thẻ cào điện thoại để đăng ký giấy tờ cho xe máy trúng thưởng. Ông Phúc mua thẻ và chuyển cho Hùng.
Hùng thông báo sẽ có người của công an kinh tế và Chi cục thuế gọi đến để thu tiền thuế của giải thưởng. Sau đó, Nguyễn Tuấn Anh (23 tuổ) tiếp tục giả là người của hai cơ quan này gọi cho nạn nhân đề nghị nộp 6,3 triệu đồng...
Theo nhà chức trách, toàn bộ giá trị thẻ cào 10,5 triệu đồng, chúng bán lại cho Nguyễn Thị Xuân với giá bằng 70%. Tuy nhiên, Xuân chỉ trả 5,7 triệu đồng, do có một số mã không sử dụng được.
Hiện, Chỉ, Hùng, Tuấn Anh và Xuân bị tạm giữ về tội Sử dụng mạng Internet để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Thông tư mới của Bộ Kế hoạch đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp

3
Ngày 21 tháng 01 năm 2013, Bộ Kế hoạch và đầu tư ban hành  Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT  hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp, có hiệu lựctừ ngày 15 tháng 04 năm 2013.
Theo đó, khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp hoặc đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp phải lựa chọn ngành kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam để ghi ngành, nghề kinh doanh trong Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Đặc biệt trong trường hợp có sự mâu thuẫn về nội dung giữa Giấy chứng nhận đăng ký lưu trữ dữ liệu điện tử và Giấy chứng nhận bằng văn bản, Giấy chứng nhận có giá trị pháp lý là Giấy chứng nhận có nội dung được ghi theo nội dung trong hồ sơ đăng ký của doanh nghiệp.
Để tìm hiểu chi tiết các quy định của Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT, Quý khách download theo đường link sau