Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Quy định mới trong giao dịch tài chính của doanh nghiệp

5
Ngày 31/12/2013 Chính phủ đã ban hành nghị định 222/2013/NĐ-CP thay thế nghị định số 196/2006/NĐ-CP quy định về thanh toán bằng tiền mặt trong đó nổi bật là quy định doanh nghiệp không được phép giao dịch bằng tiền mặt đối với hoạt động góp vốn, mua bán và chuyển nhượng phần vốn góp vào doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không phảitổ chức tín dụng không sử dụng tiền mặt khi vay và cho vay lẫn nhau
Đây là điểm mới mang tính hạn chế và kiểm soát chặt chẽ của Nhà Nước đối với doanh nghiệp. Quy định mới này có hiệu lực, bước đầu sẽ gây khó khăn cho tổ chức cá nhân, do thói quen sử dụng tiền mặt trong xã hội, khi muốn thành lập doanh nghiệp, hay góp vốn, mua bán, chuyển nhượng vốn góp trong doanh nghiệp. Khi đó, đồng nghĩa với việc các hoạt động trên của doanh nghiệp đều phải thực hiện giao dịch qua tài khoản ngân hàng. Nhưng nếu được thực thi hiệu quả thì quy định này sẽ góp phần đảm bảo tính thực tế trong giao dịch tài chính của doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí xã hội liên quan, giảm thiểu rủi ro do thanh toán bằng tiền mặt.
Ngoài ra, Nghị định số 222/2013/NĐ-CP có bổ sung thêm một số quy định mới về thanh toán bằng tiền mặt đối với giao dịch chứng khoán, quy định giải ngân vốn cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Nghị định số 222/2013/NĐ-CP có hiệu lực sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong hoạt động giao dịch tài chính của các doanh nghiệp nói riêng và trong nền kinh tế nói chung.

Ngày 01 tháng 03 năm 2014 Thông tư số 217/2013/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán sẽ chính thức có hiệu lực

Thông tư số 217/2013/TT-BTC
Đối tượng áp dụng của Thông tư là cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạmhành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán; cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Thông tư bao gồm 5 chương và 19 điều, sẽ  chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 03 năm 2014, thay thế Thông tư số 37/2011/TT-BTC ngày 16 tháng 03 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 08 năm 2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Để tìm hiểu chi tiết Thông tư số 217/2013/TT-BTC, Quý khách có thể download theo đường link sau

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Đăng ký bảo hộ thương hiệu: “Khắc tinh” của hàng nhái

Đăng ký bảo hộ thương hiệu: “Khắc tinh” của hàng nhái
(HNM) - Theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đang diễn ra khá nghiêm trọng, trong đó, hình thức xâm phạm chủ yếu là sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, đặc biệt là nhái bao bì sản phẩm. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng đến thương hiệu của nhà sản xuất kinh doanh chân chính mà còn gây hại cho người tiêu dùng.
Phong phú chủng loại, đa dạng mẫu mã
Hàng nhái, hàng giả có mặt ở mọi nơi, từ quán cóc vỉa hè đến các trung tâm thương mại cao cấp. Hầu hết ngành hàng đều có sản phẩm bị nhái nhãn hiệu, trong đó nhóm hàng lương thực, thực phẩm, đồ uống, dược phẩm bị làm giả nhiều nhất. Các thương hiệu nổi tiếng, sản phẩm bán chạy là đích ngắm của "công nghệ" sao chép bao bì. Thủ đoạn của những người "làm giả, ăn thật" ngày một tinh vi, trước là đánh lừa người tiêu dùng bằng tên gọi gần giống với sản phẩm có uy tín đang bán chạy, nay thì làm mẫu mã bao bì và logo na ná, khiến người mua khó nhận biết thật - giả. 

 Đăng ký bảo hộ thương hiệu: “Khắc tinh” của hàng nhái
Thời gian tới, các sản phẩm CNTT sản xuất trong nước sẽ được tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Một "khổ chủ" - Công ty TNHH Thương mại dược phẩm Úc Châu (Austrapharm) chia sẻ lý do vì sao phải thay đổi bao bì sản phẩm một loại sản phẩm đang bán chạy: Năm 2011, trên thị trường xuất hiện sản phẩm tên Lacvitmin plus, Lactotrep plus có phông chữ, màu sắc giống y khuôn sản phẩm Lactomin plus - loại có công dụng phòng ngừa, điều trị tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa, giúp tái lập cân bằng vi sinh đường ruột mà công ty đang phân phối. Hàng nhái đã làm giảm ít nhất 25% doanh số của công ty này, đơn giản vì sự nhái tinh vi đến mức mà ngay cả nhân viên của công ty còn bị nhầm, nói gì đến người tiêu dùng. Không chỉ giảm về doanh thu, uy tín của các công ty cũng bị ảnh hưởng bởi sản phẩm sao chép có chất lượng thấp. "Trước thực trạng này, đồng thời để phát triển sản phẩm, tăng cường mức độ nhận biết sản phẩm Lactomin plus đích thực, chúng tôi đã thay đổi mẫu mã, đăng ký bảo hộ thương hiệu" - ông Đỗ Vũ Trí, Tổng Giám đốc Austrapharm cho biết.
Hành vi xâm phạm quyền SHTT ngày một nhiều. Năm 2011, năm mà hàng giả, hàng nhái có mức "tăng trưởng" đột biến, cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý hơn 6 nghìn vụ vi phạm, số tiền phạt lên tới 9 tỷ đồng. Năm 2012, lực lượng quản lý thị trường đã xử lý hơn 13 nghìn vụ hàng giả, hàng kém chất lượng, xâm phạm quyền SHTT, phạt hành chính hơn 53 tỷ đồng. Năm 2013, riêng quý I, số vụ vi phạm được phát hiện là 3.115 vụ, số tiền phạt là 13 tỷ đồng. Nguyên nhân của thực trạng này, theo Cục trưởng Cục SHTT Tạ Quang Minh là do lợi nhuận có được nhờ hành vi sai trái quá lớn, trong khi chế tài thiên về xử lý hành chính, chủ yếu là phạt tiền nên hiệu quả ngăn chặn thấp.
Nâng cao ý thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Hiện nay, không chỉ có Austrapharm, nhiều doanh nghiệp đã thấy được lợi ích thiết thực của việc đăng ký bảo bộ SHTT về nhãn hiệu. Trong năm 2012, Cục SHTT đã tiếp nhận 29.578 đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu và đã chấp nhận bảo hộ 21.794 nhãn hiệu. Lý do khiến các doanh nghiệp tìm đến giải pháp bảo hộ nhãn hiệu, như chia sẻ của ông Đỗ Vũ Trí là vì giải pháp này sẽ tốn ít thời gian và tiền của hơn là khởi kiện đối thủ dù có đầy đủ giấy tờ hợp lệ.
Tăng cường bảo hộ SHTT không chỉ vì chi phí phát sinh hay thiệt hại về doanh số, quan trọng hơn, đó là cách bảo vệ sản phẩm an toàn nhất. Cục trưởng Tạ Quang Minh cho rằng, hiện nay, việc quan trọng nhất là nâng cao nhận thức về quyền SHTT của các cấp, ngành, doanh nghiệp và người dân thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục chính sách pháp luật về SHTT, đặc biệt là hậu quả từ hành vi xâm phạm quyền SHTT. Thêm nữa, vì hành vi làm nhái tinh vi và rất phổ biến nên chỉ có xã hội hóa công tác đấu tranh, phòng chống hàng hóa xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt là một số mặt hàng liên quan đến sức khỏe cộng đồng như thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm, đồ uống, thì mới có thể nhanh chóng phát hiện và loại bỏ hành vi này. Cũng theo Cục SHTT, trong năm nay, đơn vị này sẽ tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến việc xác lập quyền SHTT nhằm tháo gỡ khó khăn, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đăng ký xác lập quyền bảo hộ. Làm nhái sản phẩm của doanh nghiệp khác rõ ràng là hành vi gian lận thương mại, trong nhiều trường hợp đã gây hậu quả nặng nề đối với người tiêu dùng, bởi vậy, định hướng của Cục SHTT là chuyển dần từ phạt hành chính sang mức độ cao hơn, chẳng hạn như đưa ra tòa dân sự.
Doanh nghiệp chủ động, cơ quan quản lý vào cuộc, người tiêu dùng cùng giám sát. Thế "chân kiềng" ấy có vững thì mới có thể loại bỏ hàng nhái.
- See more at: http://vi.sblaw.vn/chuyen-muc/dang-ky-bao-ho-thuong-hieu-khac-tinh-cua-hang-nhai#sthash.r9GSJby4.dpuf

Tư vấn pháp luật về việc điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư nhằm sửa đổi địa chỉ

Tư vấn pháp luật về việc điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư nhằm sửa đổi địa chỉTrong trường hợp công ty có vốn đầu tư nước ngoài (Khách hàng) có nhu cầu tư vấn pháp luật về việc điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư để sửa đổi địa chỉ trụ sở chính.


S&B Law là một công ty luật và có đủ khả năng, kinh nghiệm và sẵn sàng đáp ứng tốt nhất nhu cầu được tư vấn và hỗ trợ Khách hàng thực hiện yêu cầu trên đây.
Phạm vi dịch vụ và Thời hạn thực hiện công việc nêu trên như sau:
Phạm vi dịch vụ:
Phạm vi dịch vụ của S&B Law gồm các công việc sau đây:
Soạn thảo hồ sơ đơn:
·          Thông báo danh mục tài liệu cần thiết để soạn thảo hồ sơ đơn theo quy định của pháp luật Việt Nam;
·          Soạn thảo hồ sơ đơn để nộp lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm đơn đề nghị, bản giải trình điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư, ủy quyền, nghị quyết của Ban Giám đốc bằng tiếng Anh;
·          Phối hợp với Khách hàng để trao đổi về nội dung hồ sơ đơn;
·          Điều chỉnh hồ sơ đơn trên cơ sở ý kiến đề xuất của Khách hàng;
·          Hoàn thiện hồ sơ đơn theo ý kiến tư vấn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; và
·          Dịch bản thảo cuối cùng của hồ sơ đơn sang tiếng Việt để thực hiện công việc.
Thủ tục cấp phép:
·         Đại diện cho Khách hàng nộp hồ sơ lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
·         Phối hợp với nhân sự của Khách hàng trong việc theo dõi quá trình cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
·         Rà soát và tư vấn các vấn đề liên quan đến các yêu cầu bổ sung của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu có; và
·         Hỗ trợ Khách hàng trong việc soạn thảo các tài liệu cần thiết để phản hồi ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thủ tục sau cấp phép:
·        Công bố việc điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư  của Khách hàng trên báo chí.
Phương thức thực hiện:
-        Tư vấn trực tiếp cho Khách hàng;
-        Hỗ trợ Khách hàng soạn thảo hồ sơ đơn;
-        Thay mặt Khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Thời hạn thực hiện:
-        Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các tài liệu và thông tin cần thiết theo quy định, S&B Law sẽ chuyển giao tài liệu cho Khách hàng xem xét và ký.
-        Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đơn đã được ký và đóng dấu từ Khách hàng, S&B Law sẽ nộp hồ sơ đơn lên Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
-        Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền, S&B Law sẽ nhận Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh cho Khách hàng.
-        Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Giấy chứng nhận đầu tư, S&B Law sẽ hoàn thành các công việc sau thủ tục cấp phép theo quy định của pháp luật Việt Nam cho Khách hàng.
- See more at: http://vi.sblaw.vn/chuyen-muc/tu-van-phap-luat-ve-viec-dieu-chinh-giay-chung-nhan-dau-tu-nham-sua-doi-dia-chi#sthash.oYZwXi0u.dpuf

Nhà đầu tư hỏi, luật sư trả lời

luat-suNhà đầu tư hỏi: Nếu người sử dụng đất trả tiền thuê đất hàng năm có quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào dự án đầu tư hay không?
Luật sư trả lời: Theo quy định của Luật đất đai 2003, thì đối với trường hợp người sử dụng đất trả tiền thuê đất hàng năm, người sử dụng đất chỉ được quyền góp vốn bằng tài sản của mình gắn liền với đất thuê.
Ngoài ra, khi góp vốn, cũng cần căn cứ vào mục đích sử dụng đất, ví dụ nếu trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định người sử dụng đất chỉ được dùng đất để sản xuất ô tô tải nhỏ và xe bán tải thì khi họ góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập nhà máy sản xuất tai nghe điện thoại sẽ không phù hợp với mục đích sử dụng đất ban đầu.
Để thực hiện được việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất, người sử dụng đất cần phải thực hiện được hai công việc dưới đây:
- Chuyển đất thuê thành đất giao có thu tiền sử dụng đất.
- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang mục đích sản xuất tai nghe điện thoại.
- See more at: http://vi.sblaw.vn/chuyen-muc/nha-dau-tu-hoi-luat-su-tra-loi#sthash.5M2hfcPa.dpuf

Xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu theo quy định của Luật thương mại

Tran Trung KienNhà đầu tư hỏi: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, xuất xứ hàng hóa được quy định như thế nào?
Luật sư S&B Law trả lời: Theo quy định tại Điều 7 và Điều 8, Nghị định 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 2 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về xuất xứ hàng hóa, việc xác định xuất xứ hàng hóa được thực hiện theo hai nguyên tắc sau:
+ Xác định hàng hóa có xuất xứ thuần túy: Hàng hoá có xuất xứ thuần tuý được công nhận có xuất xứ từ một quốc gia, vùng lãnh thổ khi thuộc một trong các trường hợp sau:
(i) Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được thu hoạch tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;
(ii) Động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;
(iii) Các sản phẩm từ động vật sống nêu trên;
(iv) Các sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;
(v) Các khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên, được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;
(vi) Các sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia, vùng lãnh thổ, với điều kiện quốc gia, vùng lãnh thổ đó có quyền khai thác đối với vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển theo luật pháp quốc tế;
(vii) Các sản phẩm đánh bắt và các hải sản khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu được đăng ký với quốc gia đó và được phép treo cờ của quốc gia đó;
(viii) Các sản phẩm được chế biến hoặc được sản xuất ngay trên tàu từ các sản phẩm nêu trên được đăng ký ở quốc gia, vùng lãnh thổ đó và được phép treo cờ của quốc gia, vùng lãnh thổ đó;
(ix) Các vật phẩm có được ở quốc gia, vùng lãnh thổ đó hiện không còn thực hiện được những chức năng ban đầu và cũng không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên liệu, vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế;
(x) Các hàng hoá có được hoặc được sản xuất từ các sản phẩm nêu trên ở quốc gia, vùng lãnh thổ đó.
+ Xác định hàng hóa có xuất xứ không thuần túy: Hàng hóa có xuất xứ không thuần tuý được công nhận có xuất xứ từ một quốc gia, vùng lãnh thổ khi quốc gia, vùng lãnh thổ đó thực hiện cộng đoạn chế biến cơ bản cuối cùng làm thay đổi cơ bản hàng hóa này.

- See more at: http://vi.sblaw.vn/chuyen-muc/xac-dinh-xuat-xu-hang-hoa-xuat-khau-theo-quy-dinh-cua-luat-thuong-mai#sthash.smm8dNt9.dpuf

Mức thuế áp dụng cho quà tặng, quà biếu từ nước ngoài về

Thuế áp dụng cho quà tặng quà biếu(S&B Law) Hiện nay do sự phát triển của Thương mại điện tử cũng như thân nhân người Việt nam đi làm việc, học tập ở nước ngoài nhiều nên có nhu cầu gửi hàng hóa làm quà biếu, tặng hoặc kinh doanh thương mại về cho thân nhân đang ở Việt Nam.
Các hàng hóa này thường là số lượng nhỏ và được chuyển qua dạng chuyển phát nhanh. Nhiều người đang rất quan tâm liệu các hàng hóa này có thuộc diện phải nộp thuế nhập khẩu hay không?
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì chỉ những đối tượng sau không chịu thuế nhập khẩu:
1. Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu Việt Nam theo quy định của pháp luật.
2. Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam và ngược lại, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn kiện chính thức giữa hai Bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh.
3. Hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác.
4. Hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi xuất khẩu.
Theo các quy định nêu trên thì tất cả hàng hóa nhập khẩu hay là quà biếu, tặng qua dịch vụ chuyển phát nhanh từ nước ngoài về đều phải nộp thuế.
Nhưng trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu là quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài biếu, tặng cho cá nhân là Công dân Việt Nam thì được miễn thuế khi quà biếu, tặng có tổng giá trị không quá 1.000.000 (một triệu) đồng Việt Nam hoặc tổng giá trị vượt quá 1.000.000 đồng Việt Nam nhưng số thuế phải nộp dưới 50.000 (năm mươi ngàn) đồng Việt Nam.
Điều này đã được quy định tại Điều 10 Nghị định 66/2002/NĐ-CP ngày 1/7/2002 về quy định mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế như sau:
1. Quà biếu, tặng được miễn thuế trong các trường hợp sau:
a) Quà biếu, tặng có tổng trị giá không quá 1.000.000 (một triệu) đồng Việt Nam;
b) Quà biếu, tặng có tổng trị giá vượt quá 1.000.000 (một triệu) đồng Việt Nam nhưng số thuế phải nộp dưới 50.000 (năm mươi nghìn) đồng Việt Nam.
2. Quà biếu, tặng có tổng trị giá vượt quá định mức miễn thuế quy định tại khoản 1 Điều này thì phần vượt được coi là hàng hoá nhập khẩu và phải tuân theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá nhập khẩu.
3. Trường hợp quà biếu, tặng là thuốc cấp cứu, dụng cụ y tế được biếu, tặng cho người bị bệnh nặng hoặc người bị thiên tai có trị giá không quá 10.000.000 (mười triệu) đồng Việt Nam thì được miễn các loại thuế. Giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, thống nhất với Tổng cục Hải quan quy định cụ thể.
Nhưng đối với trường hợp một người hoặc nhiều người trong một gia đình thường xuyên nhận một hay một số mặt hàng nhất định thì không được áp dụng các trường hợp nêu trên.
Mặt khác tại Điều 1 Quyết định số 78/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng chính phủ quyết định về mức giá trị hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh được miễn thuế có quy định như sau:
Hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh có giá trị từ 1.000.000 đồng (một triệu đồng) trở xuống được miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng.
Hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh có giá trị trên 1.000.000 đồng (một triệu đồng) phải nộp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật.
Như vậy tất cả hàng hóa là quà biếu, tặng hoặc nhập khẩu qua dịch vụ chuyển phát nhanh sẽ được miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng nếu thuộc các trường hợp nêu trên. Nếu ngoài các trường hợp nêu trên thì phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo Biểu thuế được quy định tại Thông tư 164/TT-BTC ngày 15/11/2013 ban hành biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế.
- See more at: http://vi.sblaw.vn/chuyen-muc/muc-thue-ap-dung-cho-qua-tang-qua-bieu-tu-nuoc-ngoai-ve#sthash.aeiL5kZs.dpuf